Bất động sản công nghiệp bứt tốc nhờ ba động lực cốt lõi

Chính sách ngày càng minh bạch; hạ tầng giao thông và logistics liên vùng được nâng cấp toàn diện; dòng vốn FDI tăng trưởng đều… đang tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của bất động sản công nghiệp Việt Nam, đồng thời, củng cố vị thế của quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu…

Chia sẻ bài viết

Theo Cục
Thống kê, vốn FDI thực hiện 8 tháng đầu năm 2026 ước đạt 17,25 tỉ USD, tăng 12%
so với cùng kỳ, và là mức cao nhất của 8 tháng trong 5 năm qua, trong đó công
nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ đạo với 14,24 tỉ USD, chiếm 82,6% tổng
vốn. Riêng miền Bắc thu hút khoảng 8,63 tỷ USD vốn FDI sản xuất, chiếm 80,5% tổng
vốn FDI sản xuất mới cả nước, trong đó nhóm máy tính, điện tử và sản phẩm quang
học dẫn đầu với hơn 7,03 tỷ USD, gần 66% tổng vốn.

Khi các
doanh nghiệp FDI thuộc lĩnh vực điện tử, sản phẩm quang học, máy tính, công nghệ
cao… liên tục mở rộng sản xuất, chuỗi cung ứng tại Việt Nam, nhu cầu về đất
công nghiệp, nhà xưởng, nhà kho theo đó cũng được thúc đẩy.

Nếu trước
đây, lợi thế của Việt Nam chủ yếu được nhìn nhận từ chi phí lao động, quỹ đất và
vị trí địa lý, thì nay sức hút đang được tạo bởi một hệ sinh thái công nghiệp
đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của các tập đoàn đa quốc gia. Trong đó phải
kể đến môi trường chính sách cởi mở, kết nối giao thông liên vùng không ngừng
được cải thiện và nguồn cung bất động sản công nghiệp chất lượng gia
tăng.

CHÍNH SÁCH
HOÀN THIỆN, HẠ TẦNG ĐỒNG BỘ ĐANG CỦNG CỐ NIỀM TIN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ

Qua các cuộc trao đổi thường xuyên với khách hàng và đối tác quốc tế, Cushman & Wakefield nhận thấy, nhà đầu tư ngày nay không chỉ tìm kiếm cơ hội đầu
tư hấp dẫn hay các điều kiện thương mại cạnh tranh. Yếu tố ngày càng được quan
tâm là mức độ minh bạch của môi trường đầu tư, tính ổn định của chính sách,
cũng như khả năng phối hợp và hỗ trợ của các cơ quan chức năng trong suốt quá trình
triển khai dự án. Đây là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ đầu
tư, hiệu quả vận hành và quyết định phân bổ vốn dài hạn của doanh nghiệp.

Hiện nay,
Chính phủ đang không ngừng đưa ra các chính sách nhằm tạo nên một môi trường đầu
tư và kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI. Nghị quyết số 10-NQ/TW được
đánh giá là tín hiệu tích cực, củng cố niềm tin của nhà đầu tư quốc tế và thể
hiện cam kết của Chính phủ đồng hành cùng nhà đầu tư nước ngoài. Nghị quyết đưa
ra định hướng chiến lược thu hút FDI thế hệ mới, tập trung công nghệ cao, đổi mới
sáng tạo, phát triển bền vững; đồng thời chủ trương phát triển đồng bộ hệ sinh
thái đầu tư gắn với thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại
tự do, khu kinh tế, khu công nghiệp, hạ tầng logistics, cùng thí điểm mô hình
thể chế vượt trội để thu hút dòng vốn chất lượng cao đi kèm kiểm soát rủi ro.

Song song với
đó, Luật Đầu tư sửa đổi và Nghị định 96/2026/NĐ-CP tiếp tục hoàn thiện môi trường
đầu tư theo hướng minh bạch, thuận lợi và cạnh tranh hơn. Cơ chế “thủ tục
đầu tư đặc biệt” cho phép các dự án tại khu công nghiệp, khu kinh tế và
khu công nghệ cao được cấp phép nhanh hơn trên cơ sở cam kết tuân thủ quy định,
góp phần rút ngắn thời gian triển khai. Đồng thời, các chính sách ưu đãi được mở
rộng cho lĩnh vực công nghệ chiến lược như bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu và
5G, cũng như các khu thương mại tự do và trung tâm tài chính quốc tế. Dự thảo
Luật Đầu tư tiếp tục nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường, giảm rào cản và
chi phí tuân thủ cho nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời bảo đảm nguyên tắc công
khai, minh bạch và nhất quán.

Ở cấp địa
phương, Hà Nội đã ban hành danh mục 9 nhóm công nghệ chiến lược giai đoạn
2026-2035, từ công nghệ số, chip bán dẫn, robot, tự động hóa đến công nghệ sinh
học, năng lượng – vật liệu tiên tiến, làm cơ sở thu hút FDI công nghệ cao phù hợp
chiến lược phát triển dài hạn của Thủ đô.

Đặc biệt,
cơ sở hạ tầng, giao thông đang được quy hoạch, nâng cấp mạnh trên cả nước, giúp
tăng kết nối vùng và năng lực logistics – yếu tố then chốt hỗ trợ trực tiếp cho
bất động sản công nghiệp.

Hạ tầng ngày càng được đầu tư đồng bộ, giúp tăng kết nối vùng và năng lực logistics. Ảnh minh hoạ: BXD
Hạ tầng ngày càng được đầu tư đồng bộ, giúp tăng kết nối vùng và năng lực logistics. Ảnh minh hoạ: BXD

Tại phía
Nam, UBND TP.HCM đang lấy ý kiến Quy hoạch tổng thể TP.HCM thời kỳ 2025-2050, tầm
nhìn 100 năm, trong đó hạ tầng giao thông là trục then chốt kết nối không gian
đô thị mở rộng, thúc đẩy liên kết vùng theo mô hình đa phương thức: cao tốc,
vành đai chiến lược (Vành đai 3, Vành đai 4, Bến Lức – Long Thành, TP.HCM – Mộc
Bài…), đường sắt quốc gia, tốc độ cao kết nối khu công nghiệp, cảng biển, sân
bay, cùng hệ thống cảng biển, cảng cạn và trung tâm logistics tích hợp. Điều
này tạo nền tảng vận hành thuận lợi hơn cho các dự án công nghiệp.

Tại phía Bắc,
khu vực Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn được định hướng thành cực động lực hội nhập
quốc tế, trung tâm dịch vụ, thương mại, logistics và công nghiệp công nghệ cao
gắn với Cảng hàng không quốc tế Nội Bài. Các tuyến metro trọng điểm (số 2, 10,
14) đang triển khai, cùng việc khép kín Vành đai 4 và mở rộng, nâng cấp Nội Bài
gắn với các trung tâm logistics, thương mại tự do quốc tế, củng cố vị thế khu vực
phía Bắc trong bản đồ sản xuất và logistics quốc gia.

NHÀ XƯỞNG
CAO TẦNG TRỞ THÀNH XU HƯỚNG TẤT YẾU

Song hành
cùng chính sách và hạ tầng, nguồn cung bất động sản công nghiệp tiếp tục mở rộng.
Tính đến quý 2/2026, tại miền Bắc, tổng quỹ đất khu công nghiệp lũy kế vượt
25.200 ha, tăng 15,7% theo năm, với hơn 1.200 ha nguồn cung mới trong 6 tháng đầu
năm từ sáu khu công nghiệp khởi công tại Hải Phòng, Bắc Ninh, Ninh Bình. Nguồn
cung nhà xưởng xây sẵn đạt khoảng 5,8 triệu m2 (tăng 16,9% theo năm), nhà kho
xây sẵn đạt khoảng 3,6 triệu m2, với Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên dẫn đầu.

Với khu vực phía
Nam, nguồn cung đất khu công nghiệp chưa ghi nhận dự án mới do các địa phương
TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh vẫn đang hoàn thiện quy hoạch, thủ tục đầu
tư sau sáp nhập địa giới hành chính, song tổng quỹ đất đã tăng 4,6% theo năm nhờ
dự án đã vận hành trước đó. Nguồn cung nhà kho xây sẵn ghi nhận thêm 56.000 m2 tại Tây Ninh, nâng tổng nguồn cung lên 6,85 triệu m2, cho thấy sự phát triển
phân tán, cân đối giữa các khu vực.

Trong bối
cảnh quỹ đất tại một số thị trường trọng điểm dần thu hẹp, xu hướng phát triển
nhà xưởng, nhà kho cao tầng, hiện đại đang trở thành hướng đi tự nhiên nhằm
khai thác tối đa hiệu quả sử dụng đất. Xu hướng này tương đồng định hướng của
Nghị quyết 10-NQ/TW, khi Việt Nam chuyển dần từ thu hút vốn đơn thuần sang các
dự án có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng và chất lượng vận hành cao hơn.
Nhà xưởng cao tầng phù hợp các ngành công nghệ cao như điện tử, bán dẫn, thiết
bị y tế, R&D; nhà kho cao tầng là giải pháp cho logistics, thương mại điện
tử và kho lạnh tại khu vực gần trung tâm tiêu dùng hoặc đầu mối giao thông trọng
điểm.

Về dài hạn, sự phát triển của nhà kho và nhà xưởng cao tầng không chỉ giải
quyết bài toán quỹ đất mà còn góp phần nâng cấp chất lượng nguồn cung công nghiệp
của Việt Nam.

* Giám đốc Bộ phận Cho thuê Công nghiệp và Văn phòng tại Cushman
& Wakefield Việt Nam

Nguồn: vneconomy.vn

Có thể bạn quan tâm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *